AN THỊNH SEEDSHạt giống dưa lưới F1
Kinh nghiệm & thị trường · Cập nhật 20/10/2026 · An Thịnh Seeds
Câu trả lời ngắn: Khoán công dưa lưới 1.000 m² nên chia theo 6 khâu, không khoán trọn vụ một giá. Cả vụ 81 công (2.600 cây, 72 ngày), tương đương 14,0–20,1 triệu đồng tiền công tùy vùng lương tối thiểu. Ba khâu cuối — thụ phấn–chọn trái (22 công), chăm nuôi (25), hái–đóng thùng (14) — chiếm 75,3% tổng công, và chỉ khâu hái là đong được bằng kg: khoảng 821 đ/kg. Khâu thụ phấn phải đong bằng số trái đậu giữ lại (1.645 đ/trái), khâu chăm nuôi đong bằng ngày kèm 3 chỉ số nghiệm thu. Đơn giá phải áp dụng thử rồi công bố công khai trước khi giao — Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 buộc như vậy.
| Mốc | Con số | Nghĩa là gì với vườn 1.000 m² |
|---|---|---|
| Tổng công cả vụ | 81 công (2.600 cây, 72 ngày) | Bình quân 1,12 công/ngày; nhưng 75,3% công dồn vào 57 ngày cuối, không rải đều |
| Tiền công cả vụ | 14,0–20,1 triệu đồng | 11,4–16,4% doanh thu 122,655 triệu của một vụ 3.315 kg |
| Khâu thụ phấn – chọn trái | 22 công · 4.276.800 đ | 27,2% tổng công, đong bằng trái đậu giữ lại: khoảng 1.645 đ/trái |
| Khâu chăm nuôi 45 ngày | 25 công · 4.860.000 đ | Khoảng 97.200 đ/ngày (0,5 công/ngày) — phải kèm 3 chỉ số, không trả cho “có mặt” |
| Khâu hái – đóng thùng | 14 công · 2.721.600 đ | Khoảng 821 đ/kg; định mức hái 301 kg/công — nhưng phải ghi “kg đạt chuẩn” |
| Điều kiện pháp lý | Điều 93 BLLĐ 2019 | Định mức lao động phải áp dụng thử rồi công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện |
Khoán trọn vụ nghe gọn: một người nhận 81 công, trả một cục, chủ vườn không phải đếm. Nhưng 81 công đó không cùng một loại việc. Bốn công đầu (trộn – đóng bầu) là việc đếm được bằng mắt, làm nhanh làm chậm đều thấy. Hai mươi hai công ở giữa (thụ phấn – chọn trái) thì không đếm được bằng mắt: cùng một buổi sáng, người làm cẩn thận thụ phấn từng hoa cái và người làm ẩu phun nước lên hoa đều “xong việc”.
Khi trả một giá trọn gói, người nhận khoán có động cơ làm nhanh khâu khó đo và dồn thời gian cho khâu dễ thấy. Chủ vườn mất quyền kiểm tra đúng chỗ cần kiểm tra nhất. Chia theo khâu thì mỗi khâu có một con số đong riêng, và mỗi lần trả tiền là một lần nghiệm thu.
Còn một lý do kỹ thuật: khâu 4 và khâu 5 chạy song song trong cùng những ngày cây đang nuôi trái. Khoán gộp hai khâu cho cùng một người thì khi trái rụng, không ai xác định được lỗi ở khâu thụ phấn hay khâu chăm.
Khoản 1 Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trả lương theo thời gian, theo sản phẩm hoặc theo khoán. Điều 54 Nghị định 145/2020/NĐ-CP giải thích rõ ba hình thức này: lương theo sản phẩm tính trên mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm; còn tiền lương khoán trả căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.
Chú ý chữ chất lượng nằm trong cả hai định nghĩa. Khoán chỉ ghi “kg” hay “công” mà không ghi điều kiện chất lượng là khoán thiếu một nửa nội dung luật yêu cầu.
Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 quy định thêm ba việc mà hầu như vườn nhỏ nào cũng bỏ: người sử dụng lao động phải xây dựng định mức lao động làm căn cứ trả lương; định mức phải là mức trung bình mà số đông người lao động thực hiện được mà không phải kéo dài giờ làm; và phải áp dụng thử trước khi ban hành chính thức, sau đó công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện (Điều 43 Nghị định 145/2020/NĐ-CP lặp lại nghĩa vụ công khai này).
Dịch sang việc đồng áng: đừng lấy đơn giá trong bài này áp thẳng cho vườn mình. Chọn một khâu, cho một người làm thử một ngày, cân kg hoặc đếm trái thật, ra định mức của vườn mình; nếu con số thử chênh xa con số dự tính quá 20% thì định mức đang sai, không phải người làm lười.
Bảng dưới là định mức nội bộ của An Thịnh cho nhà 1.000 m², 2.600 cây, vụ 72 ngày, năng suất 3.315 kg. Cột “đơn vị đong” là phần quan trọng nhất: khâu nào không có đơn vị đong thì đừng khoán, hãy trả theo ngày kèm checklist.
| Khâu | Công | % tổng công | Đơn vị đong | Đơn giá (vùng III) | Điều kiện chất lượng phải ghi |
|---|---|---|---|---|---|
| 1. Trộn – đóng bầu – xếp khay | 4 | 4,9% | bầu | 299 đ/bầu | Đủ ẩm, không vỡ bầu, xếp đúng khoảng cách |
| 2. Gieo – chăm cây con – cấy | 5 | 6,2% | cây | 374 đ/cây | Tỷ lệ cây sống sau cấy ≥95% |
| 3. Đặt bầu – căng dây – buộc leo 3 đợt – tỉa nhánh | 11 | 13,6% | cây | 822 đ/cây | Đủ 3 đợt buộc, dây không chùng, nhánh phụ cắt sát |
| 4. Thụ phấn – chọn trái (12–14 ngày) | 22 | 27,2% | trái đậu giữ lại | 1.645 đ/trái | Trái tròn đều, không sâu, đúng số trái/cây đã chốt |
| 5. Chăm nuôi đến hái (45 ngày) | 25 | 30,9% | ngày + 3 chỉ số | 97.200 đ/ngày | EC/pH đúng lịch, điểm nhỏ giọt nghẽn xử lý trong ngày, cây bệnh báo trong 24 giờ |
| 6. Hái – sơ chế – đóng thùng – vệ sinh | 14 | 17,3% | kg đạt chuẩn | 821 đ/kg | Đúng độ chín, không trầy, loại 2 để riêng |
| Tổng | 81 | 100% | 15.746.400 đ | Tiền công = 12,8% doanh thu một vụ |
Phần trăm làm tròn nên cộng lại 100,1%. Đơn giá tính theo giá 1 công 8 giờ ở vùng III (194.400 đ, đã gồm 21,5% bảo hiểm) — xem bảng lương vùng bên dưới.
Không cần phần mềm. Ba công thức dưới đủ cho cả 6 khâu, chỉ khác nhau ở mẫu số:
Có một cái bẫy nằm trong công thức thứ ba: khoán theo kg là chuyển rủi ro năng suất sang người hái. Cùng 14 công, nếu vụ này chỉ được 2.800 kg thay vì 3.315 kg, người hái vẫn làm đủ việc nhưng nhận ít hơn 15,5%. Vườn nào cũng có vụ xấu, nên ghi thêm một câu: nếu sản lượng dưới 90% dự tính, phần thiếu trả bù theo công. Không có câu đó thì vụ sau không ai nhận hái.
Từ 01/01/2026, Nghị định 293/2025/NĐ-CP áp mức lương tối thiểu mới, tăng 7,2% so với 2025. Cột cuối là chi phí thật của một công 8 giờ, đã cộng 21,5% mà người sử dụng lao động phải nộp (14% hưu trí – tử tuất, 3% ốm đau – thai sản, 0,5% tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, 1% thất nghiệp, 3% bảo hiểm y tế).
| Vùng | Lương tối thiểu tháng | Lương tối thiểu giờ | 1 công 8 giờ (đã gồm BHXH) | 81 công/vụ |
|---|---|---|---|---|
| I | 5.310.000 | 25.500 | 247.860 | 20.076.660 |
| II | 4.730.000 | 22.700 | 220.644 | 17.872.164 |
| III | 4.140.000 | 20.000 | 194.400 | 15.746.400 |
| IV | 3.700.000 | 17.800 | 173.016 | 14.014.296 |
Đây là sàn, không phải giá thị trường. Nếu vườn anh thuê người ngoài theo ca, mặt bằng phổ biến ở các đơn vị cung ứng lao động là 160.000–220.000 đ một ca 8 giờ — tức 81 công = 12,96–17,82 triệu tiền mặt, thường không đóng bảo hiểm và không giữ được người giữa vụ. Tự trả khoán theo sàn có bảo hiểm tốn 14,0–20,1 triệu nhưng có hồ sơ và giữ người. Chênh lệch vài triệu giữa hai cách là giá của việc có sổ hay không có sổ.
Sổ chỉ cần 5 cột. Không ghi được cột “khối lượng nghiệm thu” bằng số thì khâu đó chưa đủ điều kiện khoán.
| Khâu | Đơn vị đong | Khối lượng nghiệm thu | Đơn giá | Thành tiền |
|---|---|---|---|---|
| 1. Trộn – đóng bầu | bầu | 2.600 bầu | 299 | 777.400 |
| 2. Gieo – cấy | cây sống | 2.530 cây (97,3%) | 374 | 946.220 |
| 3. Buộc leo – tỉa nhánh | cây | 2.600 cây | 822 | 2.137.200 |
| 4. Thụ phấn – chọn trái | trái giữ lại | 2.600 trái | 1.645 | 4.277.000 |
| 5. Chăm nuôi | ngày đạt 3 chỉ số | 45 ngày | 97.200 | 4.374.000 |
| 6. Hái – đóng thùng | kg đạt chuẩn | 3.315 kg | 821 | 2.721.615 |
Ba ô không được thiếu ở mỗi dòng: người nhận ký, ngày nghiệm thu, và lỗi phải sửa trước khi trả tiền (ví dụ khâu 2 chỉ trả khi tỷ lệ sống đạt 95%). Thiếu ô thứ ba thì sổ chỉ còn là giấy ghi nợ, không phải công cụ quản lý.
1. Khoán trọn gói khâu thụ phấn – chọn trái. Tiền công khâu này là 4.276.800 đ. Nếu người làm ẩu khiến mất 10% số trái (260 trái), thiệt hại theo giá 37.000 đ/kg với trái 1,5 kg là 14.430.000 đ — gấp 3,4 lần toàn bộ tiền công của khâu đó. Tiết kiệm một đồng công ở đây có thể mất hơn ba đồng doanh thu.
2. Khoán hái theo “kg” mà không ghi “kg đạt chuẩn”. Người hái có động cơ hái cả trái non, trái sứt để đủ ký. Giả sử 10% khối lượng (332 kg) là trái loại 2 bán 15.000 đ/kg thay vì 37.000 đ/kg, phần mất là 7.304.000 đ — gần gấp ba tiền công khâu hái.
3. Khoán ngày ở khâu chăm nuôi mà không có chỉ số. 97.200 đ/ngày × 45 ngày = 4.374.000 đ trả cho sự có mặt. Gắn ba chỉ số vào ngày công — EC/pH dung dịch đúng lịch, điểm nhỏ giọt nghẽn xử lý trong ngày, cây có triệu chứng báo trong 24 giờ — thì tiền mua được việc, không phải mua thời gian.
Còn một con số để tham chiếu: cẩm nang khuyến nông TP.HCM ghi 1.000 m² cần 3–4 người. Nếu thuê đủ 3–4 người suốt 70–75 ngày thì thành 216–288 công = 37,4–71,4 triệu, tức ăn hết phần lãi 40,3 triệu của cả vụ. Con số 3–4 người đó là cho mô hình nhiều nhà, không phải để trả lương một nhà 1.000 m² — đây là chỗ hay bị hiểu lệch nhất khi lập dự toán.
Chia 81 công thành 6 khâu, mỗi khâu một đơn vị đong: bầu (299 đ) · cây (374 đ và 822 đ) · trái giữ lại (1.645 đ) · ngày có chỉ số (97.200 đ) · kg đạt chuẩn (821 đ). Đo thử một ngày trước khi áp, công bố đơn giá trước khi làm, nghiệm thu bằng số rồi mới trả. Ba khâu cuối chiếm 75,3% tổng công — đó cũng là ba khâu quyết định vụ này lãi hay lỗ, nên đừng gộp chúng vào một giá trọn gói cho gọn.
An Thịnh Seeds bán hạt giống dưa lưới F1 và tư vấn kỹ thuật nhà màng theo vụ. Nếu anh đang chuẩn bị giao khoán, gửi giúp diện tích, số cây, vùng (để tra mức lương tối thiểu), số người dự kiến và khâu muốn khoán qua Zalo 093 883 2833 — An Thịnh tính lại đơn giá từng khâu theo đúng vườn của anh, miễn phí.
Các số tự tính trong bài (giá 1 công 8 giờ ở 4 vùng sau khi cộng 21,5% bảo hiểm; 81 công/vụ; phần trăm từng khâu; đơn giá 299 – 374 – 822 – 1.645 – 97.200 – 821; các kịch bản mất 10% trái và 10% khối lượng loại 2) do An Thịnh Seeds tính từ công thức nêu trong bài và mức lương tối thiểu vùng của Nghị định 293/2025/NĐ-CP, không phải số công bố của cơ quan nào. Bảng công 6 khâu là định mức nội bộ, không phải định mức chính thức của nhà nước.