AN THỊNH SEEDSHạt giống dưa lưới F1
Kỹ thuật canh tác · Cập nhật 17/10/2026 · An Thịnh Seeds
Câu trả lời ngắn: một nhà màng 1.000 m² (2.600 cây, vụ 70–75 ngày) cần khoảng 81 công 8 giờ cho cả vụ — tức chỉ 1,1 người làm thường trực, không phải 3–4 người. Quy ra tiền: 14,0–20,1 triệu đồng/vụ (11,4–16,4% doanh thu 122,7 triệu), xấp xỉ bằng tiền phân bón cả vụ. Nhưng nếu nghe cẩm nang khuyến nông mà thuê đủ 3–4 người suốt 70 ngày thì thành 216–288 công = 37,4–71,4 triệu đồng, ăn 30–58% doanh thu và lấn hết phần lãi 40,3 triệu. Khâu không được cắt công là thụ phấn và sơ chế: mô hình ở Hà Tĩnh huy động 10 lao động/ngày cho 2.000 m² chỉ để thụ phấn và chọn trái.
| Đại lượng | Số dùng để tính |
|---|---|
| Mật độ – thời gian vụ | 2.600 cây/1.000 m², vụ 70–75 ngày (Trung tâm Khuyến nông TP.HCM) |
| Công cho cả vụ (6 khâu) | 81 công 8 giờ ⇒ 1,12 công/ngày |
| Tiền công một vụ | 81 công × 173.000–248.000 đ = 14,0–20,1 triệu đồng |
| So với doanh thu một vụ | 122,7 triệu đồng (3.315 kg × 37.000 đ/kg) ⇒ tiền công chiếm 11,4–16,4% |
| Nếu thuê đủ 3–4 người/70 ngày | 216–288 công = 37,4–71,4 triệu đồng (30,5–58,2% doanh thu) |
| Cao điểm thụ phấn | Cần dồn người: 10 lao động/ngày cho 2.000 m² (mô hình Hà Tĩnh) ⇒ 5 người/ngày cho 1.000 m² |
Ngày 15/10/2026, báo Tuổi Trẻ đưa chuyện doanh nghiệp Cần Thơ đề xuất nhập khẩu lao động phổ thông vì thiếu người. Doanh nghiệp thủy sản trong bài nói nhà máy của họ đang thiếu 300–500 công nhân, dù đã hỗ trợ đi lại, ăn uống. Bài dẫn số liệu Ngân hàng Thế giới: 10 năm qua Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1,7 triệu lao động ly hương, phần lớn là lao động trẻ.
Với nhà vườn dưa lưới, dòng chảy này có nghĩa rất cụ thể: người cần cho khâu buộc dây, tỉa nhánh, thụ phấn, hái trái chính là nhóm đang bị nhà máy và khu công nghiệp hút đi. Cùng một người, đi làm ca 8 giờ trong nhà máy có lương tháng ổn định; đi làm công nhật ngoài đồng thì theo mùa, nắng mưa, không bảo hiểm. Nên đừng lập kế hoạch vụ trên giả định “thiếu gì thì kêu người”. Phải chốt lịch công trước khi xuống giống, nhất là 12–14 ngày thụ phấn — khâu mà trễ một buổi sáng là mất cả lứa hoa.
Cẩm nang Trồng dưa lưới trong nhà màng của Trung tâm Khuyến nông TP.HCM (2020) viết rõ: với quy mô 1.000 m² cần 3–4 người, trong đó ít nhất một người có kinh nghiệm kỹ thuật. Cùng tài liệu: nhà màng + tưới nhỏ giọt 500–650 triệu đồng, chi phí mỗi vụ 60–75 triệu đồng, gieo 2.600 cây/1.000 m², làm 3 vụ/năm.
Phụ lục I của cẩm nang còn cho một bảng hiệu quả kinh tế đáng tin vì các dòng tự khớp với nhau. Tính lại từ bảng đó: doanh thu một vụ 122.655.000 đồng (3.315 kg × 37.000 đ/kg); tổng chi một vụ 82.354.195 đồng, trong đó khấu hao 29.138.362 đồng — riêng khung nhà màng 323,4 triệu chia 10 năm và 3 vụ/năm ra 10.780.000 đồng/vụ; lãi một vụ 40.300.805 đồng, ba vụ 120.902.414 đồng/năm.
Con số “3–4 người” nằm trong phần điều kiện cơ bản, viết cho người mới bắt đầu — thời điểm còn phải lắp giàn, học thao tác, có cán bộ kỹ thuật đứng cùng. Nó không phải định mức trả lương cho một nhà 1.000 m² đã vào guồng. Hai thứ đó khác nhau rất xa, và khoảng cách chính là phần lãi của anh/chị.
Vụ 70–75 ngày. Nếu trả đủ 3–4 người suốt vụ: 3 × 70 = 210 công, 4 × 75 = 300 công — lấy khoảng giữa là 216–288 công. Nhân với tiền công thật (mục 5): 37,4–71,4 triệu đồng. Lãi một vụ theo cẩm nang chỉ 40,3 triệu. Nói cách khác, thuê đủ người theo câu “3–4 người” là ăn hết lãi, có khi lỗ.
Cách hiểu đúng: 3–4 người là cho 3–4 nhà màng (3.000–4.000 m²) hoặc cho mô hình trọn gói đang thi công. Với 1.000 m², đơn vị để tính là công, không phải người. Một nhà 1.000 m² chỉ ngốn khoảng 1,1 công/ngày nếu anh/chị làm đúng nhịp — phần còn lại là dồn người cho vài ngày cao điểm.
Định mức dưới đây là con số An Thịnh lập để lập kế hoạch công, tính từ mật độ 2.600 cây và tốc độ thao tác thực tế trong nhà màng — không phải định mức nhà nước (Việt Nam chưa có định mức công chính thức cho dưa lưới nhà màng). Cách tính ghi ngay trong bảng để anh/chị đo lại và thay số của vườn mình.
| Khâu | Cách tính | Công/vụ |
|---|---|---|
| 1. Trộn – đóng bầu – xếp khay | 2.600 bầu ÷ 170 bầu/giờ = 15,3 giờ; cộng trộn, rửa, xử lý | 4 |
| 2. Gieo – chăm cây con – cấy vào bầu | Gieo 2.600 hạt ≈ 2 công; cấy 2.600 cây ≈ 1,5; tưới/phun 10–12 ngày ≈ 1,5 | 5 |
| 3. Đặt bầu – căng dây – buộc leo 3 đợt – tỉa nhánh | Đặt bầu + cắm nhỏ giọt ≈ 2; buộc 2.600 cây × 3 đợt ÷ 300 cây/giờ = 26 giờ ≈ 3,3; kẹp, tỉa nhánh ≈ 5,7 | 11 |
| 4. Thụ phấn – chọn trái (12–14 ngày) | 1,5 công/ngày × 12 ngày = 18; đánh dấu và chọn trái ≈ 4 | 22 |
| 5. Chăm nuôi đến hái (≈45 ngày) | 0,5 công/ngày × 45 = 22 (đo EC, tỉa lá, phun, cắt chồi); treo đỡ trái, lót xốp ≈ 3 | 25 |
| 6. Hái – sơ chế – đóng thùng – vệ sinh cuối vụ | 3.315 kg ÷ 300 kg/công ≈ 11; vệ sinh nhà màng ≈ 3 | 14 |
| Tổng | 81 công ÷ 72 ngày vụ = 1,12 công/ngày | 81 |
Công thức tự đo: công = (số cây × số lần thao tác) ÷ (số cây làm được mỗi giờ) ÷ 8. Ví dụ khâu buộc dây: 2.600 cây × 3 lần ÷ 300 cây/giờ ÷ 8 = 3,25 công. Đo 2 vụ là có định mức riêng của vườn, chính xác hơn mọi bảng mẫu.
Từ 01/01/2026, Nghị định 293/2025/NĐ-CP áp mức lương tối thiểu vùng mới. Một công 8 giờ theo sàn, cộng 21,5% bảo hiểm mà người sử dụng lao động phải đóng (14% hưu trí, 3% ốm đau – thai sản, 0,5% tai nạn lao động, 1% thất nghiệp, 3% BHYT), ra chi phí thật của một công:
| Vùng | Lương tối thiểu/tháng | Lương giờ | 1 công 8 giờ | Cộng 21,5% BHXH |
|---|---|---|---|---|
| Vùng I | 5.310.000 | 25.500 | 204.000 | 247.860 |
| Vùng II | 4.730.000 | 22.700 | 181.600 | 220.644 |
| Vùng III | 4.140.000 | 20.000 | 160.000 | 194.400 |
| Vùng IV | 3.700.000 | 17.800 | 142.400 | 173.016 |
| Thuê dịch vụ lao động phổ thông (giá công bố 2026) | — | — | 160.000–220.000/ca 8 giờ | đã gồm phí đơn vị cung ứng |
Lấy 81 công nhân với khoảng trên: 14,0–20,1 triệu đồng/vụ. Để so sánh, cẩm nang khuyến nông tính tiền phân bón một vụ 1.000 m² là 15,08 triệu đồng — nghĩa là công người là khoản lớn ngang phân bón, chỉ khác ở chỗ phân bón mua một lần theo bảng giá, còn công người trả từng buổi và dễ trôi nhất.
Khoán theo khâu, đừng khoán theo người. Cách làm gọn: chốt đơn giá từng khâu (đóng bầu, buộc dây, thụ phấn, hái) theo 1.000 cây hoặc theo kg hái được, trả theo kết quả, ghi sổ công. Khâu nào không đo được bằng kg thì đo bằng số cây hoàn thành. Người làm biết mình được bao nhiêu/cây, anh/chị biết mỗi khâu ngốn bao nhiêu tiền, khỏi cãi nhau cuối vụ.
Cắt được:
Không được cắt:
| Ngày | Khâu | Số người × giờ | Kết quả (cây/kg) | Tiền công |
|---|---|---|---|---|
| 17/10 | Buộc dây đợt 2 | 2 người × 4 giờ = 1 công | 260 cây | 220.000 |
| 18/10 | Thụ phấn | 3 người × 3 giờ = 1,1 công | 850 hoa | 245.000 |
| 19/10 | Hái đợt 1 | 3 người × 6 giờ = 2,25 công | 640 kg | 495.000 |
Ba dòng cuối vụ là đủ thấy: cây/công của khâu nào thấp nhất, kg/công của khâu hái là bao nhiêu, và tiền công thật đang chạy bao nhiêu phần trăm doanh thu. Ghi 5 phút mỗi ngày, đổi lại là quyết định thuê người có số.
An Thịnh Seeds tư vấn mật độ – lịch vụ – lịch công cho nhà màng 1.000 m², kèm mẫu sổ công và bảng khoán theo khâu: gọi hoặc nhắn Zalo 093 883 2833.